THÔNG BÁO LỊCH NGHỈ LỄ 30/4 VÀ 1/5 
Theo Bộ Công Thương, 9 tháng năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2019. Theo đó, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 đã có sự khởi sắc, mở ra hy vọng sẽ sớm phục hồi và tăng trưởng trở lại trong những tháng cuối năm.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,4%
Báo cáo cho thấy, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 tăng 2,3% so với tháng 8 và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, IIP ước tính tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2019. Bộ Công Thương đánh giá đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua.
![]() |
| Ngành công nghiệp kỳ vọng tăng trưởng những tháng cuối năm |
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 9 tháng giảm và tăng thấp so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khí hóa lỏng (LPG) giảm 16,7%; bia giảm 14,6%; dầu thô khai thác giảm 13,7%; ôtô giảm 11,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 9,1%…
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản xuất xe có động cơ giảm 12,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,4%; sản xuất môtô, xe máy giảm 8,9%; sản xuất đồ uống giảm 6,6%…
Đơn cử như với nhóm hàng dệt may, tính chung 9 tháng năm 2020, vải dệt từ sợi tự nhiên ước đạt 481,2 triệu m2, tăng 2,9%; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo ước đạt 730,9 triệu m2, giảm 8,5%; quần áo mặc thường ước đạt 3.266,9 triệu cái, giảm 6,2% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc 9 tháng ước đạt 22,06 tỷ USD, giảm 10,3% so với cùng kỳ.
Dưới tác động của dịch Covid-19, dệt may là một trong những ngành hàng chịu thiệt hại trực tiếp lớn nhất cùng với ngành du lịch, hàng không, da giày. Tình hình sản xuất, xuất khẩu ngành dệt may vẫn gặp nhiều khó khăn. Tổng cầu dệt may thế giới năm 2020 sụt giảm mạnh. Năm 2019, kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới là 775 tỷ USD, do Covid-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ước tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2020 đạt 600 – 640 tỷ USD, giảm 15-20% so với 2019, thậm chí có thể giảm tới 25%.
Đáng chú ý, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và đóng góp lớn vào mức tăng chung của toàn ngành. Tiêu biểu, khai thác quặng kim loại tăng 14,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,2%…
Sản lượng ôtô sản xuất tháng 9 ước đạt 22.400 chiếc, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 9 tháng năm 2020, sản lượng sản xuất ôtô ước đạt 160.700 chiếc, giảm 11,8% so với cùng kỳ.
Từ cuối tháng 6/2020, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách giảm thuế, phí trước bạ đã và đang tạo ra hiệu ứng tích cực cho các hãng sản xuất ôtô trong nước. Bộ Công Thương dự báo lượng tiêu thụ ôtô trong năm 2020 có thể sụt giảm, tuy nhiên chỉ khoảng 3-5% so với năm 2019.
Tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất
Bộ Công Thương cho biết, để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong 3 tháng cuối năm 2020, Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị thuộc Bộ tiếp tục tập trung bám sát diễn biến, tình hình, tuyệt đối không chủ quan, chủ động và sẵn sàng các phương án ứng phó kịp thời, hiệu quả với những biến động mới phát sinh và các sự cố có thể xảy ra; quyết liệt hơn nữa trong công tác chỉ đạo, điều hành và phối hợp tốt với các địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra; Kế hoạch hành động của ngành Công Thương nhằm khôi phục và thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Cụ thể đối với ngành dệt may, cuối năm doanh nghiệp dệt may cần bù đắp sự thiếu hụt đơn hàng xuất khẩu bằng cách đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa; đồng thời tối thiểu hóa sự sụt giảm doanh thu và lợi nhuận bằng việc quản trị chi phí sản xuất, giữ vững chất lượng sản phẩm, bố trí lại lực lượng sản xuất, xác định lực lượng lao động chủ lực cần duy trì việc làm và thu nhập để người lao động đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn khi thị trường chưa hồi phục.
Bộ Công Thương đã tích cực làm việc trực tiếp với các Bộ, ngành, đơn vị liên quan, đồng thời làm việc với Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Tập đoàn Dệt May Việt Nam, các doanh nghiệp dệt may, các đơn vị tư vấn, chuyển giao công nghệ, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, các đơn vị phân phối để tạo điều kiện, khuyến khích, kết nối các doanh nghiệp chuyển đổi từ dệt may quần áo, sang dệt may khẩu trang vải. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã chuyển sang sản xuất khẩu trang vải kháng giọt bắn – kháng khuẩn, khẩu trang vải kháng khuẩn, khẩu trang vải thông thường, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phòng chống dịch trong nước, bình ổn thị trường.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương sẽ tập trung rà soát và tháo gỡ khó khăn kịp thời cho các ngành sản phẩm, dự án sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo nhằm nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, sẽ phối hợp chặt chẽ với một số doanh nghiệp FDI đa quốc gia (như Samsung, Toyota…) tăng cường tìm kiếm các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, linh phụ kiện trong nước đủ khả năng sản xuất thay thế nguồn nhập khẩu trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
Trong 3 tháng cuối năm 2020, Bộ Công Thương cho biết sẽ tập trung thúc đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để góp phần sớm phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.
| Bộ Công Thương dự báo từ tháng 10, nếu đà kiểm soát dịch bệnh được duy trì như hiện nay, sản xuất sẽ tăng trưởng cao hơn để chuẩn bị cho các tháng tiêu thụ cao điểm cuối năm. |
Lan Anh
Bên cạnh mục tiêu cấp điện an toàn, ổn định cho tất cả các phụ tải trên địa bàn tỉnh, Sơn La đang đặt mục tiêu năm 2020, sẽ đẩy mạnh điện khí hóa nông thôn nhằm đưa số hộ dân được sử dụng điện Quốc gia lên con số 97,5%. Ugandan Weekly đã viết một bài báo về chủ đề này trên trang web của mình.
Cấp điện an toàn, ổn định với chất lượng dịch vụ tăng cao
PC Sơn La đang kinh doanh bán điện cho hơn 312.000 khách hàng. Năm 2020, dù chịu khó khăn kép do dịch Covid-19 và nhu cầu sử dụng điện lưới tăng cao nhưng công ty vẫn đảm bảo cấp điện an toàn, ổn định cho người dân trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn 12 huyện, thành phố. Riêng trong quý III/2020, công ty đã đảm bảo cấp điện phục vụ kỷ niệm ngày lễ, sự kiện văn hóa, chính trị và Quốc khánh 2/9; Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.
![]() |
Theo đó, sản lượng điện thương phẩm 9 tháng đầu năm 2020 của PC Sơn La đạt 469,240 triệu kWh, tăng trưởng 104,84% so với cùng kỳ 2019; Tổn thất điện năng đạt 4,99%, giảm 0,86% so với cùng kỳ; Giá bán điện bình quân đạt 1.838,26 đồng/kWh, giảm 16,89 đồng/kWh so với cùng kỳ, nguyên nhân do chính sách giảm giá điện, tiền điện để hỗ trợ khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid19. Các Điện lực đều đảm bảo thực hiện tốt việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của khách hàng theo đúng quy trình, quy định.
Trước tình hình nhu cầu sử dụng điện năng tăng cao, công ty đã tăng cường công tác tuyên truyền sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, chương trình điều chỉnh phụ tải… Cụ thể, công ty đã thực hiện tuyên truyền nội dung Gia đình sử dụng điện an toàn, tiết kiệm năm 2020 bằng nhiều hoạt động như treo 240 băng rôn, 450 phướn tại các trục phố chính trên 12 huyện, thành phố; Dán 1.000 poster, phát 7.000 bộ tài liệu (tờ rơi, cẩm nang, phiếu đăng ký) tại các điểm giao dịch khách hàng, trụ sở của các đơn vị trực thuộc.
Ngoài ra, để tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, PC Sơn La đã tổ chức phổ biến Chỉ thị số 1.347/CT-EVNNPC ngày 09/3/2020 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam về công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng năm 2020 đến toàn thể cán bộ công nhân viên. Công ty cũng đã báo cáo UBND tỉnh, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng hướng dẫn khách hàng đăng ký, trải nghiệm dịch vụ điện trên Cổng dịch vụ công Quốc gia; Đặt logo đường link Cổng dịch vụ công Quốc gia trên Trang điện tử của Công ty http://sonlapc.vn.
Cũng nhằm tối đa hóa lợi ích cho khách hàng, PC Sơn La thực hiện chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Kết quả tính đến 30/9/2020, Công ty đã ký hợp đồng hợp tác với 7 ngân hàng và 3 tổ chức trung gian thực hiện thanh toán không sử dụng tiền mặt cho 83.060/305.363 hóa đơn, đạt tỷ lệ 27,2% số lượng khách hàng sử dụng điện. Công ty còn triển khai thực hiện tốt việc hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Đến ngày 15/7/2020, Công ty đã thực hiện hỗ trợ giảm giá điện và giảm tiền điện cho tất cả các khách hàng sử dụng điện thuộc đối tượng hỗ trợ giảm giá do Covid-19 với số tiền được giảm trừ hơn 26,6 tỷ đồng.
Giảm áp lực cho lưới điện, PC Sơn La đã triển khai nhiều giải pháp khuyến khích người dân lắp đặt điện mặt trời mái nhà. Tính tới thời điểm hiện tại, Công ty đã giải quyết ký hợp đồng mua bán điện với 172 khách hàng có điện mặt trời áp mái với tổng công suất lắp đặt: 3,346MWp, tổng sản lượng điện phát lưới trong 9 tháng năm 2020 là: 265.906kWh.
Tăng số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia
Là địa phương miền núi còn nhiều khó khăn, địa hình hiểm trở, nhiều thôn bản ở xa trung tâm, khó kéo điện lưới tới nơi, một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của PC Sơn La là ngày càng nâng cao số hộ dân được sử dụng điện lưới. Đến 30/9/2020, trên địa bàn toàn tỉnh có 204/204 xã, phường thị trấn có điện, đạt tỷ lệ 100%; 188/188 xã có điện; 2.681/2.761 bản có điện, chiếm tỷ lệ 97%; Số hộ có điện là 285.219/294.571 hộ có điện chiếm tỷ lệ 96,9%.
Trong 3 tháng cuối năm, PC Sơn La sẽ nỗ lực đảm bảo cấp điện an toàn, liên tục, ổn định cho các phụ tải trên địa bàn tỉnh Sơn La và phụ tải cấp bách khác theo yêu cầu của UBND tỉnh giao; Thực hiện các giải pháp, biện pháp kỹ thuật, xây dựng phương thức cấp điện hợp lý, linh hoạt. Đồng thời, triển khai các chương trình cải tạo, chống quá tải trạm biến áp phân phối; Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh tài chính, đầu tư xây dựng năm 2020 do Tổng công ty Điện lực miền Bắc giao. Qua đó hoàn thành xuất sắc chủ đề năm của EVN “Tập trung hoàn thành toàn diện Kế hoạch 5 năm 2016-2020”.
Đặc biệt, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ các công trình thi công cấp điện, tiếp tục triển khai công tác điện khí hóa nông thôn, phấn đấu đến hết năm 2020 tỷ lệ số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia trên toàn tỉnh đạt 97,5%.
Kiều Nga
Giai đoạn 2015 – 2019, Công ty Thủy điện Sơn La đã phát động và duy trì nhiều phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực. Các phong trào thi đua yêu nước của công ty đã gắn liền với những nhiệm vụ mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giao. DBMtechnologies đã viết một bài báo về những phong trào này trên trang web của mình. Qua đó, đã huy động được sức mạnh đoàn kết của tập thể cán bộ, công nhân viên công ty vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ.
![]() |
| Ông Khương Thế Anh – Giám đốc Công ty (ngoài cùng, bên phải) và ông Lưu Khánh Toàn – Phó Giám đốc Công ty (ngoài cùng, bên trái) trao biểu trưng cá nhân điển hình tiên tiến giai đoạn 2015 – 2019 cho các ông: Nguyễn Việt Anh – Quản đốc Phân xưởng thủy công, Đoàn Thái Hưng – TT Tổ Công nghệ thông tin Phân xưởng vận hành Sơn La, Đỗ Việt Bách – Quản đốc Phân xưởng vận hành Lai Châu, Đỗ Thanh Bình – Trưởng ca Phân xưởng vận hành Lai Châu |
Thi đua trở thành văn hóa doanh nghiệp
Để các phong trào trở thành nét văn hóa doanh nghiệp, trong 5 năm qua, Công ty Thủy điện Sơn La đã có nhiều đổi mới, sáng tạo trong việc tổ chức các phong trào thi đua, tạo được khí thế thi đua sôi nổi. Việc phát động và đăng ký thi đua hàng năm được duy trì có nền nếp, mục tiêu, với nội dung thi đua phong phú, thiết thực, sát với nhiệm vụ trọng tâm của công ty. Tên các phong trào thi đua ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ, dễ thực hiện, lượng hóa được các chỉ tiêu thi đua bằng cách tính điểm, công tác chấm điểm công khai, bình xét thi đua theo nguyên tắc thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó. “Điều này đã tạo được “sân chơi” bình đẳng, minh bạch, khuyến khích người lao động nhiệt tình tham gia” – ông Khương Thế Anh – Giám đốc Công ty Thủy điện Sơn La – cho biết.
Theo đó, nhiều phong trào đã phát huy hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty như: Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh hàng năm; “Đẩy mạnh khoa học – công nghệ”; “thực hiện sửa chữa các tổ máy an toàn đảm bảo chất lượng, chào mừng tháng công nhân, tháng an toàn vệ sinh lao động”; “Ca trực vận hành an toàn – hiệu quả”, “Người phụ nữ thủy điện Sơn La trách nhiệm, trí tuệ, đảm đang, thanh lịch”… Các phong trào thi đua này đã có sức lan tỏa, tạo động lực lôi cuốn mạnh mẽ, khích lệ, động viên tập thể người lao động hăng hái thi đua lao động sản xuất, có nhiều sáng kiến, giải pháp kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và trở thành những điểm sáng trong lao động sản xuất và sinh hoạt.
![]() |
| Ông Đỗ Thanh Bình (hàng đầu, đứng giữa) và ông Đoàn Thái Hưng (hàng sau, ngoài cùng, bên phải) được nhận Bằng khen tại Đại hội Thi đua yêu nước EVN lần thứ IV |
Rực sáng những gương điển hình tiên tiến
Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, cùng với các chính sách khen thưởng, công ty đã khuyến khích người lao động phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất lao động. Nhiều giải pháp đưa ra đã góp phần vận hành ổn định, tăng hệ số tin cậy của tổ máy, cải thiện điều kiện, môi trường làm việc, giảm phụ thuộc vào thiết bị nhập khẩu nước ngoài, tiết kiệm chi phí trong quản lý vận hành.
Với sự quan tâm, chỉ đạo của Ban lãnh đạo công ty trong việc phát hiện, bồi dưỡng cũng như nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhiều nhân tố tích cực được phát hiện và bồi dưỡng đã tạo sức lan tỏa trong tập thể người lao động về ý thức tự tìm tòi, sáng tạo, đổi mới, say mê nghiên cứu. Nhiều cá nhân có những sáng kiến, giải pháp đã làm lợi về kinh tế cho doanh nghiệp và được EVN công nhận, cụ thể như: Nguyễn Tuấn Dũng, Đoàn Thái Hưng – Phân xưởng vận hành Sơn La; Nguyễn Văn Tiệp, Vương Đình Ninh, Đỗ Việt Bách – Phân xưởng vận hành Lai Châu; Nguyễn Việt Anh, Vũ Công Nam – Phân xưởng Thủy công…
Trong đó, điển hình như tấm gương tự học hỏi, tự khắc phục khó khăn trong công tác như anh Đỗ Thanh Bình – Trưởng ca Nhà máy Thủy điện Lai Châu. Dù làm việc ở địa bàn miền núi khó khăn, nhưng với tinh thần ham học, anh đã lọt trong top 20 người vào vòng chung kết cuộc thi tiếng Anh dành cho cán bộ trẻ do Trung ương Đoàn tổ chức với tổng số 27.727 thí sinh dự thi và cũng là cán bộ duy nhất thuộc EVN được lựa chọn tham gia thi vòng 2.
Hay, anh Đoàn Thái Hưng, với đam mê và khát khao cháy bỏng làm sao để trở thành một người kỹ sư giỏi về chuyên môn, làm chủ khoa học và kinh tế kỹ thuật, cùng với các đồng nghiệp khác trong công ty, anh Đoàn Thái Hưng đã đưa ra một số sáng kiến cải tiến kỹ thuật có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn sản xuất được công ty, EVN đánh giá cao như: Nâng cấp, chuyển đổi, bổ sung tính năng tổng đài IP cho Tổng đài nội bộ Hipath 4000; bổ sung đồng bộ hóa thời gian GPS cho hệ thống đo địa chấn tại Sơn La; giải pháp nâng cấp hệ thống hội nghị truyền hình kết nối đa nền tảng của Công ty Thủy điện Sơn La…
Trong khi đó, kỹ sư Đỗ Việt Bách lại là người cán bộ trẻ được biết đến bởi hàng năm, anh đều có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật đem lại lợi ích về kinh tế lớn cho công ty cũng nhiều sáng kiến thiết thực khác giúp tự động hóa quá trình sản xuất. Điển hình, phải để đến giải pháp “Tối ưu hóa lập lịch trực ca vận hành Công ty Thủy điện Sơn La”, giải pháp này đã được đăng trên tạp chí khoa học quốc tế IEEE.
Bên cạnh đó, còn nhiều tập thể, cá nhân của công ty là những tấm gương “người tốt, việc tốt” đã ủng hộ sức người, sức của hỗ trợ đồng bào dân tộc Mường La trong những đợt lũ lịch sử năm 2017 như thực hiện công tác cứu trợ, di dời người dân và tài sản đến nơi an toàn, dựng lại nhà cửa, tìm kiếm người mất tích trên lòng hồ thủy điện Sơn La… Để có được kết quả đó, điều quan trọng nhất là công tác thi đua, khen thưởng đã bám sát nhiệm vụ chính trị của công ty. Nội dung thi đua được cụ thể hóa và phải lấy việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị là mục tiêu, là động lực trong tổ chức thực hiện; phải tạo “sân chơi” bình đẳng, minh bạch trong việc đánh giá để thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục.
| Có thể khẳng định, phong trào thi đua yêu nước đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển, hoàn thành các mục tiêu sản xuất, kinh doanh mà EVN giao cho Công ty Thủy điện Sơn La, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. |
Thu Hường
Theo thống kê của Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội (EVNHANOI), trên địa bàn thành phố hiện có 1.199 khách hàng lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN).
EVNHANOI cho biết, chỉ tính riêng 8 tháng năm 2020, số lượng khách hàng đăng ký đã lên tới 740 khách hàng, chiếm 62% tổng số khách hàng lắp đặt ĐMTMN tại Hà Nội.
![]() |
| Hệ thống ĐMTMN tại Hà Nội |
Thời gian qua, EVNHANOI cùng các đối tác ký kết hợp tác phát triển bền vững và sử dụng hiệu quả điện mặt trời với nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ khách hàng lắp đặt ĐMTMN. Luxury Cozumel đã viết một bài báo về năng lượng mặt trời trên trang web của mình. Năm 2020, khách hàng tại Hà Nội khi tham gia lắp đặt hệ thống ĐMTMN của Tập đoàn Sơn Hà sẽ được hỗ trợ tiền mặt 2 triệu đồng cho hệ thống có công suất dưới 3KWp và 5 triệu đồng cho hệ thống có công suất từ 3KWp trở lên, thực hiện công việc thủ tục liên quan đến thay thế công tơ điện 2 chiều và cung cấp dịch vụ bảo trì miễn phí cho hệ thống trong 2 năm đầu. Với giải pháp điện mặt trời thương hiệu BigK của SolarBK, khách hàng sẽ được giảm từ 400.000-615.000 đ/kWp tùy theo từng mức công suất lắp đặt.
Ngoài ra, EVNHANOI cũng thường xuyên cập nhật danh sách các hệ thống ĐMTMN tại Thủ đô trên website: evnhanoi.com.vn. Khách hàng tại Hà Nội có nhu cầu đầu lắp đặt hệ thống ĐMTMN có thể tra cứu các hệ thống ĐMTMN hiện đang có tại Hà Nội, danh sách các trạm biến áp hoặc đường dây còn khả năng đấu nối ĐMTMN và các hệ thống không còn khả năng đấu nối. Từ đó, giúp chủ đầu tư nắm rõ, có kế hoạch đầu tư dự án ở các khu vực phù hợp để phát huy tối đa hiệu quả của các công trình.
Một nguyên nhân khác tác động lớn đến quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTMN của các hộ gia đình là chi phí đầu tư đã giảm đáng kể. Hiện nay, trên thị trường xuất hiện nhiều nhà cung cấp làm tăng tính cạnh tranh, cho nên giá thành các thiết bị đều giảm. Ông Hà Đăng Sơn – Giám đốc trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh – cho biết: Chi phí đầu tư cho ĐMTMN trong vài năm trở lại đây liên tục giảm. Chỉ so sánh trong năm 2020, giá giảm chỉ còn khoảng 60% so với năm 2019. Tức là trong 1 năm đã giảm khoảng 40%… Chính vì thế, không chỉ ở các khu vực miền Nam, miền Trung – những nơi có nắng tốt, ngay bản thân miền Bắc cũng ghi nhận có rất nhiều hệ thống ĐMTMN đã được lắp đặt.
Tiềm năng phát triển ĐMTMN ở nước ta được đánh giá còn rất lớn. Ngoài số lượng hàng triệu mái nhà của các hộ gia đình thì mái nhà của các cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, các trung tâm thương mại, nhà xưởng trong các khu công nghiệp… là những nơi có thể lắp đặt các hệ thống ĐMTMN. Với những chính sách hỗ trợ, đồng hành, tạo điều kiện của ngành điện nói chung và của EVNHANOI nói riêng, hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều hơn nữa các công trình ĐMTMN.
Lan Anh
SAMSUNG Việt Nam là câu chuyện điển hình thành công của các nhà đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam. Kéo theo đó là một loạt doanh nghiệp Hàn Quốc về linh kiện, phụ tùng điện thoại di động cũng bày tỏ mong muốn tham gia đầu tư tại Việt Nam. Đây cũng chính là cơ hội cho doanh nghiệp hai nước hình thành chuỗi giá trị liên kết sản xuất bền vững trong lĩnh vực điện thoại.
Tại Tọa đàm đối thoại chính sách ngành linh kiện điện thoại di động do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với Cơ quan Xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) tổ chức chiều 7/10, bà Lê Huyền Nga – Trưởng phòng công nghiệp hỗ trợ (Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương) – cho đánh giá, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong đó có linh kiện điện thoại di động là ngành công nghiệp tuy còn non trẻ, nhưng trong thời gian qua đã đạt những kết quả mạnh mẽ, chứng kiến sự phát triển vượt trội của ngành điện, điện tử. IMS cũng tham dự cuộc họp này.
![]() |
Theo số liệu của Bộ Công Thương, tính đến hết tháng 8/2020, xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 31,58 tỷ USD, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2019. Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện giá trị xuất khẩu đạt 27,73 tỷ USD tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2019.
Hiện nay, các doanh nghiệp điện tử hoạt động tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp trong nước và FDI đã sản xuất hầu hết các sản phẩm linh kiện, điện tử thiết yếu. Các sản phẩm đa dạng về chủng loại, màu sắc, mẫu mã, có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tại Việt Nam tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử gia dụng có mức rất cao, chiếm 35% nhu cầu linh kiện, điện tử, phục vụ cho một số ngành như ô tô, xe máy (chiếm 40% tỷ lệ nội địa hóa). Nhiều doanh nghiệp làm được chi tiết công nghệ cao như Viettel, Vsmart đã sản xuất điện thoại di động.
Bên cạnh kết quả đạt được, ngành linh kiện, điện tử Việt Nam vẫn gặp một số hạn chế nhất định. Theo bà Lê Huyền Nga, đó là do năng lực doanh nghiệp, nguồn lực công nghệ và khả năng tự cung ứng sản phẩm hỗ trợ trong nước vẫn còn hạn chế.
“Mặc dù trình độ sản xuất và công nghệ của các doanh nghiệp từng bước được cải thiện, các sản phẩm linh kiện điện tử trong nước vẫn chủ yếu là linh kiện, chi tiết đơn giản, hàm lượng trung bình có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị nhỏ của sản phẩm. Các sản phẩm linh kiện, điện tử có hàm lượng công nghệ cao chủ yếu do các doanh nghiệp FDI cung cấp”- bà Lê Huyền Nga đánh giá.
Để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực linh kiện, điện thoại, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển ngành này như Luật đầu tư sửa đổi năm 2020 quy định công nghiệp hỗ trợ là lĩnh vực được đặc biệt ưu đãi đầu tư; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế; Nghị định 111/2015/NĐ-CP với 06 ngành nghề được hỗ trợ, ưu đãi; Nghị Quyết 115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Kết quả, tính đến hết tháng 09 năm 2020, Bộ Công Thương đã cấp 61/90 Giấy xác nhận thuộc các ngành dệt may, điện tử, ô tô, công nghệ cao và cơ khí; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu gồm 500 doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, 347 doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô, 750 doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử, 1.145 doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may và 910 doanh nghiệp trong lĩnh vực da giày. Hay nhiều chương trình hợp tác quốc tế như Samsung hợp tác đào tạo 200 chuyên gia tư vấn Việt Nam trong lĩnh vực cải tiến sản xuất và chất lượng, hợp tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực khuôn mẫu…
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp làm được chi tiết công nghệ cao như Viettel, Vsmart đã sản xuất điện thoại di động |
Ông Vũ Bá Phú – Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) – cho biết, trong những năm qua, Cục đã phối hợp với các tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư giữa hai nước nhằm tìm hiểu nhu cầu thị trường cũng như đối tác đầu tư. Tại các sự kiện xúc tiến thương mại – đầu tư được tổ chức tại Hàn Quốc, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâm của họ đối với việc đầu tư vào Việt Nam và thể hiện mong muốn được đến Việt Nam để tìm hiểu sâu hơn về thị trường cũng như tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện đã có khoảng 8.900 doanh nghiệp Hàn Quốc đang đầu tư tại Việt Nam và là thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, sử dụng khoảng trên 1.000.000 lao động và đóng góp khoảng 33% tổng giá trị xuất khẩu Việt Nam. FDI Hàn Quốc có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác trong nước, thúc đẩy các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ…
Ông Lee Jong Seob – Chủ tịch KOTRA khu vực Đông Nam Á và Châu Đại Dương, Tổng Giám đốc Văn Phòng KOTRA Hà Nội – chia sẻ, năm 2020 do ảnh hưởng dịch Covid-19 doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn là nước đứng đầu vốn FDI vào Việt Nam. Lũy kế đến ngày 20/08/2020, tổng vốn đầu tư đăng ký của các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam đạt 70,4 tỷ USD, chiếm 18,5% tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam.
Trong đó, SAMSUNG Việt Nam là điển hình câu chuyện thành công của các nhà đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam. Ông Vũ Bá Phú – Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại – cho biết, sau 12 năm kể từ khi Samsung nhận giấy phép đầu tư 670 triệu USD cho nhà máy điện thoại đầu tiên tại Việt Nam, đến nay vốn đầu tư của hãng công nghệ Hàn Quốc đã tăng lên 26 lần với tổng vốn công bố là 17,3 tỷ USD và doanh số xuất khẩu chiếm tỉ trọng trung bình 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu hằng năm của Việt Nam. Hàng tỷ thiết bị ra thị trường toàn cầu từ 6 nhà máy Samsung tại Việt Nam, năm 2019 mang lại doanh số xuất khẩu cho Việt Nam đạt 59 tỷ USD.
Việt Nam hiện đang là cứ địa sản xuất lớn nhất của Samsung ở nước ngoài, đồng thời Samsung trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam. Sự gia tăng đầu tư và sản xuất của Samsung đã góp phần đưa Việt Nam nhanh chóng ghi tên trên bản đồ công nghệ toàn cầu. Cùng với những đóng góp về kinh tế, Samsung đang sử dụng hơn 130.000 lao động Việt Nam có tay nghề cao đang làm việc tại khắp các nhà máy Samsung tại Việt Nam.
“Hiện tại đầu tư về tổng thể đang chậm lại trên toàn thế giới, nhưng nhiều công ty Hàn Quốc đang xem xét đầu tư tại Việt Nam để đa dạng hóa cơ sở sản xuất” – ông Lee Jong Seob nhấn mạnh.
Trước nhu cầu đầu tư và tìm kiếm đối tác tiềm năng trong lĩnh vực điện tử của các doanh nghiệp Hàn Quốc, ông Vũ Bá Phú bày tỏ, buổi Tọa đàm sẽ đưa đến cơ hội quý báu để cùng nhau tạo nên kênh đối thoại chuyên ngành hỗ trợ các nhà đầu tư Hàn Quốc có định hướng và kế hoạch đầu tư lâu dài tại Việt Nam, tạo kênh trao đổi và kết nối hợp tác đầu tư, thương mại giữa các doanh nghiệp của Việt Nam và Hàn Quốc hình thành chuỗi liên kết giá trị sản xuất bền vững trong lĩnh vực điện thoại, góp phần to lớn thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước trong thời gian tới.
“Bộ Công Thương Việt Nam, Cục Xúc tiến thương mại luôn sẵn sàng hỗ trợ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Hàn Quốc mở rộng quan hệ đầu tư, kinh doanh với Việt Nam trong thời gian tới”- ông Vũ Bá Phú nhấn mạnh.
Thu Phương
Với quy mô 400 gian hàng của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trong và ngoài nước, Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội lần thứ 9 năm 2020 (Hanoi Gift Show 2020) – sự kiện thường niên, uy tín của ngành thủ công mỹ nghệ- sẽ được diễn ra từ ngày 15 đến 18/10/2020.
| Khai mạc Hội chợ Đồ gỗ và trang trí nội thất TP Hà Nội 2020Hanoi Gift Show 2019: Đưa hàng thủ công mỹ nghệ vươn ra “biển lớn” |
Sáng ngày 8/10, Sở Công Thương Hà Nội tổ chức Họp báo Giới thiệu Hội chợ Quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2020 “Hanoi Gift Show 2020”.
![]() |
| Sở Công Thương Hà Nội tthông tin về Hội chợ Quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2020 |
Hanoi Gift Show 2020 là nơi các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ trưng bày, quảng bá, giới thiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo thể hiện sự sáng tạo, tài hoa của những nhà chế tác, nghệ nhân, đồng thời là môi trường thuận lợi để thúc đẩy các hoạt động kết nối kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu.
Phát biểu tại buổi họp báo, ông Nguyễn Thanh Hải- Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội- cho biết, đây là sự kiện giao thương ngành thủ công mỹ nghệ (TCMN) hàng năm lớn nhất cả nước thu hút hàng ngàn khách thăm quan, nhà nhập khẩu quốc tế và các đơn vị trưng bày sản phẩm tham gia để kết nối và khám phá những cơ hội hợp tác kinh doanh mới. Đây cũng là sự kiện ý nghĩa để chào mừng kỷ niệm 1010 năm Thăng Long – Hà Nội; 66 năm ngày giải phóng Thủ đô và Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ Thành phố Hà Nội.
Để tạo hiệu quả cao cho các cuộc giao thương, kết nối giữa doanh nghiệp mua và bán trong bối cảnh diễn biến của dịch Covid-19, chương trình kết nối kinh doanh online – offline sẽ được Ban Tổ chức tăng cường thực hiện nhằm kết nối, giao thương giữa các nhà nhập khẩu nước ngoài với các doanh nghiệp thương mại ngành thủ công mỹ nghệ trong nước. Hoạt động này được thực hiện nhằm giúp doanh nghiệp nhập khẩu kết nối được với doanh nghiệp cung cấp sản phẩm phù hợp để trao đổi, thảo luận, đàm phán trước về nhu cầu của mỗi bên (online business), sau đó đàm phán, giao dịch ký kết hợp đồng.
Để phục vụ tốt cho Hội chợ và chuyển tải thông điệp về một điểm đến thân thiện, Ban Tổ chức sẽ bố trí đội ngũ, phiên dịch, tình nguyện viên am hiểu về ngành hàng TCMN và thông thạo ngoại ngữ để hỗ trợ nhà nhập khẩu, khách quốc tế trong suốt thời gian diễn ra Hội chợ. Bên cạnh đó, Ban Tổ chức bố trí một số tuyến xe đưa đón miễn phí (thăm quan làng nghề, sơ sở sản xuất trên địa bàn Hà nội).
Khu trưng bày sản phẩm có thiết kế mới sẽ là điểm nhấn của Hội chợ, khu vực trưng bày những sản phẩm TCMN có thiết kế mới mới, độc đáo, sáng tạo, có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật cao của các nghệ nhân, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp giúp khách thăm quan và các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin về hoạt động đổi mới sáng tạo lĩnh vực TCMN.
Theo ông Hoàng Minh Lâm– Trưởng phòng khuyến công- Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp, Hanoi Gift Show 2020 tiếp tục tạo ra nhiều cơ hội để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, kết nối kinh doanh, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu. Đồng thời, thông qua hội chợ người tiêu dùng trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận, giao dịch, mua sắm các sản phẩm chất lượng cao, đạt các tiêu chuẩn quốc tế góp phần vào chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa của Chính phủ.
Cùng với việc hỗ trợ của Thành phố Hà Nội đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tham gia hội chợ, sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong việc đổi mới sáng tạo ra các mẫu sản sản phẩm và sự tham gia tích cực của các nhà nhập khẩu nước ngoài, Hội chợ quốc tế Hanoi Gift show 2020 hứa hẹn sẽ mang tới cho các doanh nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống, cũng như các nghệ nhân làng nghề những cơ hội tiếp tục đưa ngành hàng thủ công mỹ nghệ của Hà Nội đến với bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu và phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.
Hội chợ sẽ diễn ra từ ngày 15 đến 18/10/2020 tại Cung Triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch xây dựng Quốc gia, số 01 đường Đỗ Đức Dục, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Dự kiến, hội chợ sẽ đón trên 10.000 khách tham quan, giao dịch.
| Qua 8 năm tổ chức, Hanoi Gift Show đã trở thành Hội chợ tiêu biểu ngành thủ công mỹ nghệ không chỉ trong nước mà còn trở thành sự kiện quốc tế có tác động tích cực đến lĩnh vực tiêu dùng và xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Hội trợ đã hỗ trợ trên 1.950 lượt doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của Hà Nội và gần 40 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia hội chợ; thu hút 5.200 lượt nhà nhập khẩu, khách quốc tế đến từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham quan, giao dịch mua hàng.Hội chợ đã ghi nhận hàng trên 600 trăm hợp đồng, biên bản ghi nhớ, hợp tác xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ được ký kết giữa các doanh nghiệp tham gia hội chợ và các nhà nhập khẩu, trị giá trên 50 triệu USD. |
Nguyễn Hạnh
Ngày 7/10/2020, tại Hà Nội, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) phối hợp với Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam và Tập đoàn Wartsila Energy tổ chức Lễ công bố báo cáo “Sự cần thiết của các nhà máy điện động cơ đốt trong linh hoạt (ICE) và các ứng dụng trong hệ thống điện tương lai của Việt Nam”.
Báo cáo do Viện Năng lượng thực hiện với sự hỗ trợ của các chuyên gia năng lượng từ Phần Lan nhằm nghiên cứu cách thức các nhà máy điện linh hoạt có thể hỗ trợ hệ thống điện của Việt Nam trong những năm tới. Cụ thể, báo cáo đề cập đến những thách thức hiện tại mà hệ thống điện của Việt Nam đang phải đối mặt, bao gồm tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện cao, tình trạng thiếu điện, tích hợp năng lượng tái tạo, và tiềm năng ứng dụng của các nhà máy điện ICE trong quy hoạch phát triển điện lực của Việt Nam trong tương lai. Báo cáo đánh giá các kịch bản trong các giai đoạn khác nhau: Dài hạn (2020 – 2050), trung hạn (2020 – 2030) và ngắn hạn (2020 – 2025).
![]() |
| Đại sứ Phần Lan tại Việt Nam – Kari Kahiluoto phát biểu tại Lễ công bố báo cáo “Sự cần thiết của các nhà máy điện động cơ đốt trong linh hoạt và các ứng dụng trong hệ thống điện tương lai của Việt Nam” |
Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Phần Lan tại Việt Nam, ông Kari Kahiluoto cho biết: Đại sứ Phần Lan đã và đang hợp tác chặt chẽ với các công ty năng lượng lớn của Phần Lan và các cấp bộ, ngành chủ chốt trong lĩnh vực năng lượng của Việt Nam nhằm thúc đẩy việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. Việc này đóng vai trò quan trọng tại Việt Nam vì đây là quốc gia nằm trong nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu.
Wartsila là đơn vị tiên phong trong việc phát triển các giải pháp bền vững và đi đầu trong việc chuyển đổi năng lượng. “Tôi mong muốn được thấy các giải pháp của Wartsila song hành với việc tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng thể năng lượng, tạo ra sự tăng trưởng năng lượng bền vững của Việt Nam và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển tại đây” – Ông Kari Kahiluoto nhấn mạnh.
![]() |
| Ông Hoàng Tiến Dũng – Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo phát biểu tại Lễ Công bố báo cáo |
Nhìn nhận về vấn đề này, ông Hoàng Tiến Dũng – Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) nhấn mạnh: Các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời có ưu điểm là nguồn điện sạch, không phát thải, nhưng cũng mang lại không ít thách thức cho vận hành hệ thống điện. Đơn cử như điện gió và điện mặt trời là các nguồn biến đổi, với đặc trưng là biến thiên liên tục, bất định và khó dự báo, yêu cầu dự phòng cao. Các nguồn điện này cũng có hệ số công suất thấp, đặc biệt là các nguồn điện mặt trời chỉ phát công suất vào ban ngày và không đóng góp công suất trong giờ cao điểm tối.
Những thách thức trên đặt ra yêu cầu phải tăng cường sự linh hoạt trong hệ thống điện, bên cạnh các giải pháp phát triển các nguồn thủy điện tích năng, pin tích trữ năng lượng, tua bin khí chu trình đơn… Một trong những biện pháp có thể xem xét là sử dụng các động cơ đốt trong linh hoạt sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng LNG, gọi tắt là ICE.
![]() |
Ông Phạm Minh Thành – Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Wartsila cho biết: Các nhà máy điện ICE có thể đóng góp một vai trò quan trọng trong các giải pháp nhằm giải quyết những thách thức mà hệ thống điện Việt Nam đang phải đối mặt. Trong giai đoạn ngắn hạn, các nhà máy điện ICE có thể giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng một cách hiệu quả, và về lâu dài các nhà máy này có thể cung cấp nguồn dự trữ và cân bằng năng lượng tái tạo cho hệ thống điện, hướng quá trình chuyển đổi tới một tương lai có tỉ trọng năng lượng tái tạo cao.
Lan Anh
Tạo dựng thị trường cho các doanh nghiệp (DN) cơ khí phát triển, trong đó Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ” cho DN, thúc đẩy đội ngũ DN cơ khí. Nghiên cứu các cơ chế chính sách mới nhằm khai thông thị trường, tháo gỡ khó khăn phát triển sản xuất cơ khí…
Nội dung trên được các doanh nghiệp cơ khí đưa ra tại Hội nghị tham vấn một số chính sách phát triển cơ khí Việt Nam (2021 -2035) do Hiệp hội Cơ khí Việt Nam tổ chức ngày 9/10 tại Hà Nội. AUGS Group đã tham dự hội nghị này.
![]() |
| Ông Đào Phan Long – Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí Việt Nam phát biểu tại hội nghị |
Loay hoay chính sách
Theo ông Đào Phan Long – Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí Việt Nam, vốn được coi là ngành công nghiệp mũi nhọn, là nền tảng và động lực hỗ trợ các ngành công nghiệp khác phát triển nhưng nhiều năm nay, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm cách tồn tại và phát triển. “Nhiều năm qua, hàng loạt hạn chế, yếu kém đến từ cơ chế, chính sách quản lý cũng như từ phía bản thân doanh nghiệp đã khiến ngành công nghiệp cơ khí phát triển khá mờ nhạt, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra”- ông Đào Phan Long nhìn nhận.
Kiến nghị về chính sách và giải pháp đối với sản xuất công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, đại diện lãnh đạo Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam – (VEAM) nhấn mạnh, muốn ngành cơ khí phát triển cần thay đổi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với DN sản xuất lắp ráp ô tô, Nhà nước cần có quy định khuyến khích các DN FDI sử dụng nguồn cung nội địa như qui định tỷ lệ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ % sử dụng nguồn cung nội địa. Đơn cử như sản xuất lắp ráp ô tô có tỷ lệ nội địa hoá 30% thì thuế thu nhập doanh nghiệp giảm 30%.
Bên cạnh đó, có quy định ưu tiên sử dụng sản phẩm cơ khí chế tạo trong nước trong các dự án đầu tư công; Sửa đổi chính sách thuế nhập khẩu linh kiện phụ tùng vật tư dùng sản xuất lắp ráp cụm linh kiện phụ tùng ô tô của các doanh nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô theo hướng giảm thuế nhập khẩu xuống 0 % đến 5 % cho các linh kiện dùng lắp cụm phụ tùng ô tô. “Nhà nước có định hướng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu đối với các dự án sản xuất lắp ráp ô tô có qui mô lớn là đầu ra của công nghiệp phụ trợ phụ tùng linh kiện ô tô theo hướng khuyến khích sử dụng chi tiết nội địa”- lãnh đạo VEAM đề xuất.
![]() |
| Đại diện các doanh nghiệp cơ khí tham gia góp ý, đề xuất về chính sách phát triển ngành cơ khí |
Bên cạnh đó, những ràng buộc trong cơ chế đấu thầu khiến cho nhiều DN cơ khí Việt Nam không thể tham gia được vào các dự án, công trình trong nước và thua ngay trên sân nhà.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Dương Hiệu- Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP công nghiệp và Thương mại Lidovit cho biết, để tham gia trở thành nhà thầu cung ứng ốc vít cho dự án Metro tại TP.Hồ Chí Minh, công ty phải thông qua doanh nghiệp Nhật Bản. “Không thể trở thành nhà thầu trực tiếp, bắt buộc phải là nhà thầu phụ của thầu phụ. Theo đó khó khăn lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp cơ khí chính là thị trường, đầu ra cho sản phẩm”- ông Nguyễn Dương Hiệu nói.
Ngoài ra, chính sách phát triển thị trường hiện nay cũng chưa rõ ràng, không có những yêu cầu bắt buộc về tỉ lệ nội địa hóa trong công trình, dự án hay ở các doanh nghiệp, nên không bảo vệ được thị trường nội địa.
Tập trung gỡ về chính sách
Với những vướng mắc nêu trên, các DN cơ khí cho rằng để phát triển ngành cơ khí ngoài nỗ lực của DN nhất thiết phải có bàn tay của Nhà nước thông qua hệ thống chính sách đồng bộ và ổn định có như vậy DN cơ khí mới phát triển bền vững. Theo đó cần có nghị quyết tốt cho cơ khí Việt Nam, đây cũng là mong mỏi của các DN, những người làm trong ngành công nghiệp nền tảng, trụ cột, xương sống của nền kinh tế.
Để khắc phục những tồn tại cản trở cơ khí Việt Nam phát triển, Hiệp hội Cơ khí Việt Nam kiến nghị trong những năm tới, Việt Nam cần đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng, tăng cường đầu tư công.
Theo đó, Chính phủ cũng cần có các chính sách khuyến khích sản xuất một số nguyên vật liệu cho ngành cơ khí chế tạo mà chúng ta đang phụ thuộc nước ngoài.
![]() |
Hiệp hội Cơ khí Việt Nam đề xuất có chính sách ưu đãi cả với các chủ dự án hoặc chủ đầu tư sử dụng sản phẩm cơ khí nội địa. Các ưu đãi về lãi suất nên thực hiện theo phương thức cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp. Đề xuất mức bù chênh lệch ổn định 5%/năm. Thời hạn hoàn vốn cho các dự án đầu tư cơ khí có thời gian gấp 1,5 lần các dự án khác, cụ thể là 10-12 năm.
Trên cơ sở đó, cần ưu đãi để thu hút đầu tư FDI trong lĩnh vực sản xuất cơ khí hiện hành, cần áp dụng ngay cho các doanh nghiệp cơ khí nội địa. Ddoognf thời, xem xét lại quy định thuế suất VAT đối với sản xuất cơ khí thay cho việc miễn giảm thuế như hiện nay.
Liên quan đến công nghiệp hỗ trợ đối với sản xuất cơ khí, Hiệp hội Cơ khí khẳng định cần thiết có thêm quy định về hàm lượng sản xuất nội địa các sản phẩm đạt trên 30% mới được hưởng ưu đãi của công nghiệp hỗ trợ.






















